Việt Nam đất nước ta | Nguyễn Đình Thi
Sức mạnh của thói quen

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:47' 06-09-2024
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:47' 06-09-2024
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
CHARLES DUHIGG
Sức mạnh của thói quen
Chia sẽ ebook : https://sachmoi.net
Follow us on Facebook : https://www.facebook.com/sachmoi.net
Phần mở đầu
Cải tạo thói quen
Cô là đối tượng tham gia yêu thích của các nhà khoa học.
Theo hồ sơ, Lisa Allen, 34 tuổi, đã bắt đầu hút thuốc lá và uống rượu từ năm 16
tuổi và đấu tranh chống lại bệnh béo phì suốt cuộc đời. Khi cô ở độ tuổi hai mươi,
có lúc các công ty thu hồi nợ đã tìm kiếm ráo riết cô để đòi khoản nợ 10.000 đô-la.
Một bản sơ yếu lý lịch cũ cho thấy công việc lâu nhất cô làm là gần một năm.
Tuy nhiên, người phụ nữ trước mặt các nhà nghiên cứu hôm nay thanh mảnh và
tràn đầy sức sống, với đôi chân rắn chắc của một vận động viên điền kinh. Trông
cô trẻ hơn đến mười tuổi so với bức ảnh trong hồ sơ và chừng như cô có thể luyện
tập tốt hơn bất kỳ ai trong phòng. Theo báo cáo gần đây nhất trong hồ sơ, hiện cô
không còn khoản nợ nào, không uống rượu và đã làm việc ở một công ty thiết kế
đồ họa được 3 năm 3 tháng.
“Lần cuối cùng cô hút thuốc là khi nào?” một bác sĩ trị liệu hỏi, bắt đầu cho một
chuỗi câu hỏi mà Lisa trả lời mỗi lần cô đến phòng thí nghiệm bên
ngoài Bethesda thuộc Maryland.
“Gần 4 năm trước, tôi đã sụt 27kg và bắt đầu chạy ma-ra-tông từ đó,” cô trả lời. Cô
cũng bắt đầu tham gia khóa học lấy bằng thạc sĩ và mua nhà. Đó là quãng thời gian
có rất nhiều sự kiện xảy ra.
Trong phòng gồm nhà chuyên khoa thần kinh, nhà tâm lý học, nhà di truyền học
và một nhà xã hội học. Ba năm qua, với nguồn tài trợ từ Viện Y tế Quốc gia, đội ngũ
này đã tìm hiểu về Lisa và hơn 24 người khác là những người đã từng hút thuốc lá,
ăn uống vô độ, người say xỉn có vấn đề, người bị ám ảnh mua sắm và người có thói
quen không tốt. Tất cả những người tham gia đều có một điểm chung, họ đã làm
lại cuộc đời trong khoảng thời gian rất ngắn. Vì thế, các nhà nghiên cứu muốn tìm
hiểu xem điều đó đã xảy ra như thế nào. Để làm điều này, họ xem xét những biểu
hiệu quan trọng của các đối tượng, lắp đặt camera quan sát trong nhà để ghi lại
hoạt động hàng ngày, xem xét một phần chuỗi AND được sắp xếp trình tự, quan
sát bên trong não đối tượng nhờ vào công nghệ hiện đại, quan sát xung lực máu và
điện từ trong não khi người tham gia chịu tác động do sự cám dỗ của khói thuốc lá
và những bữa ăn thịnh soạn. Mục đích của các nhà khoa học là tìm ra thói quen tác
động thế nào đến thần kinh và làm gì để thay đổi thói quen.
“Tôi biết cô đã kể chuyện này hàng chục lần, nhưng vài đồng nghiệp của tôi chỉ
được nghe kể lại. Cô có thể mô tả lại mình đã bỏ thuốc lá thế nào không?” người
bác sĩ đề nghị Lisa.
“Chắc chắn rồi,” Lisa đáp, “Mọi chuyện bắt đầu ở Cairo.” Kỳ nghỉ đó là một quyết
định vội vàng, cô khẳng định. Vài tháng trước đó, chồng cô trở về sau khi hoàn
thành công việc và thông báo anh ta sẽ đi vì yêu một cô gái khác. Lisa mất một thời
gian để giải quyết chuyện phản bội và cuốn vào cuộc ly hôn. Khoảng thời gian đó
thật sự đau đớn, cô bị ám ảnh việc bí mật theo dõi chồng mình và người phụ nữ
đó, cô đã gọi điện thoại cho cô ta sau nửa đêm và gác máy. Sau đó, vào một buổi
chiều nọ, Lisa đến nhà người phụ nữ ấy, say xỉn, đập cửa và la hét giận dữ rằng cô
sẽ đốt căn nhà.
“Đó chẳng phải là quãng thời gian tốt đẹp gì, lúc nào tôi cũng muốn xem kim tự
tháp và vì thẻ tín dụng của tôi cũng chưa đến giới hạn nợ, thế nên…” Lisa tiếp tục.
Buổi sáng đầu tiên ở Cairo, Lisa thức dậy từ sớm tinh mơ khi nghe thấy tiếng kinh
cầu nguyện cất lên từ một nhà thờ gần đó. Phòng khách sạn vẫn tối đen như mực.
Vẫn còn ngái ngủ và mệt mỏi sau chuyến bay dài, cô châm một điếu thuốc.
Cô không nhận ra mình đang cố châm lửa một cây bút chứ không phải một điếu
Marlboro cho đến khi có mùi nhựa cháy bốc lên. Bốn tháng trước, cô chỉ biết khóc
lóc, ăn uống bất thường, mất ngủ và cảm thấy xấu hổ, vô vọng, chán nản và giận
dữ. Nằm trên giường, cô thấy mình đang dần kiệt sức. “Giống như lớp lớp nỗi
buồn kéo đến, mọi thứ tôi từng mong muốn đã hoàn toàn sụp đổ trước mắt. Thậm
chí, tôi còn không thể hút thuốc sao cho đúng.”
“Rồi tôi bắt đầu nghĩ về người-chồng-cũ, về việc sẽ khó khăn thế nào để tìm một
công việc mới khi về nhà, viêc tôi ghét cay ghét đắng công việc đó, và tôi thấy
không khỏe ra sao. Tôi đứng dậy, đập vỡ một bình nước khiến nó vương vãi khắp
sàn nhà và bắt đầu khóc nhiều hơn. Tôi cảm thấy tuyệt vọng, có lẽ phải thay đổi
điều gì đó, ít nhất là điều tôi có thể kiểm soát được.”
Cô tắm táp và rời khách sạn. Cô lái xe dọc những con đường mòn của Cairo, những
con đường lầy lội dẫn đến kim tự tháp Sphinx ở khu lăng mộ Giza và sa mạc rộng
lớn, bất tận bao quanh nó, trong một khoảnh khắc, cảm giác thương hại bản thân
tan biến. Cô thầm nghĩ, mình phải có một mục tiêu cho cuộc đời, một cái gì đó để
hướng đến.
Vì thế khi trong xe taxi, cô đã quyết định trở về Ai Cập và thực hiện một chuyến đi
bộ qua sa mạc.
Lisa biết đó là một ý tưởng điên rồ. Cô đang thừa cân, sức khỏe không tốt và không
còn tiền trong ngân hàng. Cô không biết tên sa mạc mình đang tìm kiếm hay
chuyến đi đó có thể hay không. Nhưng dù thế nào, đó cũng không phải là vấn đề.
Cô cần điều gì đó để tập trung vào. Lisa quyết định sẽ dành một năm để chuẩn bị
cho điều đó. Để vượt qua hành trình, cô biết mình phải hy sinh điều gì.
Cụ thể hơn, cô cần phải bỏ thuốc lá.
11 tháng sau, cuối cùng Lisa cũng băng qua sa mạc với 6 người khác trên một
chiếc xe có máy lạnh. Đoàn lữ hành mang theo rất nhiều nước, thức ăn, lều, bản
đồ, hệ thống định vị toàn cầu, radio thu phát hai chiều, nếu có ném thêm một
thùng thuốc lá thì cũng chẳng có gì khác biệt.
Nhưng khi trong xe taxi, Lisa không biết điều đó. Theo các nhà khoa học ở phòng
thí nghiệm, chi tiết của chuyến đi vất vả đó không hề liên quan. Vì họ bắt đầu nhận
thấy, sự thay đổi nhỏ trong nhận thức của Lisa ngày ở Cairo, rằng cô tin chắc bỏ
thuốc lá để đạt được mục tiêu của mình, đã tạo ra một chuỗi những thay đổi ảnh
hưởng đến cuộc sống sau này của cô. Sáu tháng sau, cô đã thay thế thuốc lá bằng
chạy bộ và lần lượt thay đổi cách ăn uống, làm việc, nghỉ ngơi, lên lịch làm việc, dự
tính tương lai, v.v… Cô bắt đầu chạy ma-ra-tông, trở lại trường học, mua nhà và
kết hôn. Cuối cùng, cô được tuyển dụng vào làm nghiên cứu khoa học và
khi các nhà nghiên cứu bắt đầu xem xét hình ảnh não bộ của Lisa, họ tìm thấy vài
thứ khác lạ, một cấu trúc thần kinh – thói quen cũ của cô – đã được thay thế bằng
cấu trúc mới. Họ vẫn có thể nhìn thấy hoạt động thần kinh của những thói quen cũ
nhưng những xung lực đó đã bị đẩy ra bằng sự thúc đẩy mới. Vì thói quen của Lisa
thay đổi, não của cô cũng thế.
Các nhà khoa học tin rằng chuyến đi đến Cairo, cũng như cuộc ly hôn hay chuyến
đi qua sa mạc không phải là nguyên nhân của sự thay đổi. Nguyên nhân là Lisa đã
tập trung thay đổi chỉ một thói quen duy nhất: hút thuốc lá. Những người tham
gia vào quá trình nghiên cứu của các nhà khoa học cũng trải qua quy trình tương
tự. Bằng việc tập trung vào một dạng duy nhất được gọi là “thói quen cơ bản”, Lisa
đã tự dạy mình cách sửa lại những hoạt động khác trong cuộc sống.
Không phải chỉ cá nhân mới có thể thay đổi. Khi công ty thay đổi thói quen, toàn
bộ tổ chức sẽ chuyển đổi theo. Các công ty như Procter & Gamble, Starbucks,
Alcoa và Target tận dụng được sự hiểu biết sâu sắc này để tác động đến việc hoàn
thành công việc, cách mọi người giao tiếp và cách khách hàng mua sắm mà họ
không hề nhận ra.
“Tôi muốn cho cô xem một bản chụp cắt lớp gần đây,” một nhà nghiên cứu nói với
cô khi sắp kết thúc bài kiểm tra. Ông đặt tấm hình có hình ảnh bên trong đầu cô
lên màn hình máy vi tính. “Khi cô nhìn thấy thức ăn, những khu vực này”, ông chỉ
vào một chỗ gần trung tâm não của cô, “liên quan đến cơn đói vẫn sẽ hoạt động.
Não cô sẽ tạo ra chất kích thích làm cô ăn nhiều hơn.”
“Tuy nhiên, có hoạt động mới ở khu vực này” – ông chỉ vào khu vực gần với trán
nhất – “nơi mà sự kiềm chế và tự kiểm soát bắt đầu. Hoạt động đó sẽ mạnh hơn
mỗi lần cô ăn.”
Lisa là đối tượng tham gia yêu thích của các nhà khoa học vì bản chụp cắt lớp não
của cô rất thuyết phục và có ích để tạo ra một bản đồ về nơi có cấu trúc lề thói –
thói quen - trong tâm trí con người. “Cô đã giúp chúng tôi hiểu được một quyết
định trở thành lề thói tự động thế nào”, người bác sĩ nói với cô.
Mọi người trong phòng cảm thấy họ đang bên bờ vực của điều gì đó quan trọng.
Và thực sự như vậy.
* * *
Khi thức dậy vào buổi sáng, bạn sẽ làm gì đầu tiên? Có phải bạn sẽ tắm vội, kiểm
tra email hay lấy một cái bánh nướng từ quầy bếp? Bạn đánh răng trước hay sau
khi lau khô mình? Bạn buộc dây giày trái hay phải trước? Bạn nói gì với các con
khi đi ra cửa? Bạn chọn đường nào để lái xe đi làm? Khi đến bàn làm việc, bạn sẽ
giải quyết mail, chat với đồng nghiệp hay vội vàng lên kế hoạch làm việc trước?
Bữa trưa bạn ăn rau trộn hay bánh hăm-bơ-gơ? Khi về nhà, bạn sẽ thay giày đế
mềm và đi bộ hay ăn tối, xem ti vi và uống một cốc rượu?
Năm 1892, William James viết: “Toàn bộ cuộc sống chúng ta là một tổng thể các
thói quen, dù trong chừng mực nào đó nó có một hình thái nhất định.” Hầu hết
những lựa chọn hàng ngày có vẻ là kết quả của sự quyết định đã được xem xét kỹ
càng nhưng thật sự không phải vậy. Đó là thói quen. Và mặc dù mỗi thói quen có
tác dộng không lớn, theo thời gian, món ăn chúng ta gọi, lời chúng ta nói với con
cái mỗi đêm, chúng ta tiêu xài hay tiết kiệm, chúng ta tập thể dục thường xuyên
thế nào và cách chúng ta tổ chức suy nghĩ, công việc hàng ngày có ảnh hưởng lớn
đến sức khỏe, năng suất lao động, an toàn tài chính và hạnh phúc của ta. Bài báo
của một nhà nghiên cứu ở trường Đại học Duke năm 2006 đã kết luận rằng hơn
40% lề thói hàng ngày của con người không phải là quyết định thực sự mà là thói
quen.
William James cũng như nhiều người khác, từ Aristotle đến Oprah, dành hầu hết
cuộc đời để tìm hiểu thói quen tồn tại thế nào. Nhưng chỉ trong hai thập kỷ vừa
qua, các nhà khoa học và nhà tiếp thị mới bắt đầu hiểu được thói quen hoạt
động như thế nào và quan trọng hơn, nó thay đổi thế nào.
Cuốn sách này được chia làm ba phần. Phần một nói về cách thức hình thành thói
quen trong cuộc sống mỗi người. Chúng tôi nghiên cứu cấu trúc thần kinh của việc
hình thành thói quen, làm thế nào để tạo thói quen mới và thay đổi cái cũ và
những phương pháp, ví dụ như một nhân vật quảng cáo đẩy bàn chải đánh răng
một cách khó hiểu đã trở thành nỗi ám ảnh lớn lao. Nó giải thích Procter & Gamble
đã hóa một ống xịt Febreze thành một vụ kinh doanh trị giá hàng tỉ đô-la nhờ vào
sự thúc đẩy theo thói quen của khách hàng như thế nào, Alcoholics Anonymous
thay đổi cuộc sống bằng cách khắc phục thói quen quyết định của thói nghiện như
thế nào và trọng tài Tony Dungy đã đảo ngược vận mệnh của đội bóng yếu nhất
trong Liên đoàn Bóng đá Quốc gia bằng cách tập trung vào những phản ứng tự
nhiên của các cầu thủ trước những gợi ý tinh vi đang diễn ra trong trận đấu như
thế nào.
Phần hai xem xét những thói quen của các công ty và tổ chức đã thành công. Cụ
thể, nó giải thích việc nhà lãnh đạo Paul O'Neill trước khi trở thành thư ký bộ tài
chính đã biến một nhà sản xuất nhôm đang vật lộn thành nhà sản xuất hàng đầu ở
khu công nghiệp Dow Jones bằng cách tập trung vào thói quen quyết định như thế
nào; và làm thế nào Starbucks đưa một người bỏ học trung học giữa chừng thành
nhà quản lý hàng đầu bằng cách truyền dẫn những thói quen giúp nâng cao ý chí.
Nó cũng giải thích tại sao một bác sĩ phẫu thuật tài năng có thể mắc những lỗi
thảm khốc khi thói quen tổ chức của bệnh viện không như ý muốn.
Phần ba nói về các thói quen xã hội. Nó kể lại chi tiết việc Martin Luther King và
cuộc vận động quyền dân chủ thành công một phần bằng cách thay đổi thói quen
cố hữu của xã hội Montgomery, Alabama và tại sao Rick Warren, một vị mục
sư lại xây dựng được nhà thờ lớn nhất nước ở thung lũng Saddleback thuộc bang
Carlifornia. Cuối cùng, nó lý giải những vấn đề đạo đức hóc búa như một tên sát
nhân ở Anh có nên được thả tự do không nếu hắn có thể thuyết phục rằng thói
quen của hắn dẫn đến việc giết người.
Mỗi chương suy xét xung quanh một lý lẽ quan trọng: Thói quen có thể thay đổi
được nếu chúng ta hiểu được cách thức nó hoạt động.
Cuốn sách này dẫn đến hàng trăm nghiên cứu học thuật, bài phỏng vấn trên 300
nhà khoa học và lãnh đạo, nghiên cứu tiến hành tại nhiều công ty. (Để biết thêm về
số liệu các nguồn, xin tham khảo ghi chú của cuốn sách và
trang http://www.thepowerofhabit.com.) Nó tập trung vào những thói quen
được định nghĩa chính xác: những lựa chọn mà tất cả chúng ta quyết định theo
chủ ý tại thời điểm nào đó và sau đó dù không tiếp tục suy nghĩ nhưng vẫn còn
thực hiện thường xuyên mỗi ngày. Vào một thời điểm, chúng ta quyết định nên ăn
uống bao nhiêu, tập trung vào điều gì khi đến văn phòng, nên uống rượu hay đi bộ
thường xuyên thế nào. Sau đó chúng ta ngừng quyết định và lề thói đó tiếp tục xảy
ra. Đó là kết quả hiển nhiên của hệ thần kinh. Và khi hiểu được cách nó xảy ra, bạn
có thể xây dựng lại cấu trúc đó theo cách bạn lựa chọn.
* * *
Tôi bắt đầu quan tâm đến khoa học về thói quen lần đầu tiên khi đọc được một bài
báo cáo trên một tờ báo ở Baghdad cách đây 8 năm. Theo quan sát của tôi, quân
đội Mỹ là một trong những thí nghiệm lớn nhất về sự hình thành thói quen trong
lịch sử. Huấn luyện cơ bản dạy cho các binh lính cách tạo thói quen kỹ lưỡng để
biết cách bắn, suy nghĩ và giao tiếp khi có hỏa hoạn. Trên chiến trường, mọi mệnh
lệnh được giao đều dựa trên những lề thói được luyện tập để trở nên nhuần
nhuyễn. Toàn bộ tổ chức dựa trên những thói quen luyện tập không ngừng để xây
dựng căn cứ, đặt định trọng điểm chiến lược và quyết định xem nên đáp trả sự tấn
công của đối phương như thế nào. Trong những ngày đầu nổ ra chiến tranh, sự
nổi loạn ở khắp nơi và chết chóc gia tăng không ngừng, các vị chỉ huy tìm kiếm
những thói quen mà họ có thể truyền dẫn cho binh lính và nhờ thế người Iraq có
thể tạo được hòa bình lâu dài.
Tôi đã ở Iraq được hai tháng khi nghe tin một viên sĩ quan quân đội đang tiến
hành chương trình điều chỉnh thói quen ứng khẩu ở Kufa, một thành phố nhỏ
nằm cách thủ đô 90 dặm về phía nam. Anh ta là một thiếu tá quân đội đã phân tích
những đoạn băng ghi hình các cuộc náo loạn gần đây và tìm ra cấu trúc: Bạo lực
thường mở đầu từ một đám đông người Iraq tụ tập ở trung tâm mua sắm hay
những không gian mở khác, rồi tăng dần về kích cỡ qua vài giờ. Những người bán
thức ăn dạo cũng như người xem sẽ xuất hiện. Rồi có ai đó ném đá hay ném một
cái chai và ồn ào sẽ bũng nổ quá sức tưởng tượng.
Khi viên thiếu tá gặp thị trưởng của Kufa, anh ta đã có một yêu cầu kỳ lạ: có thể
giữ những người bán thức ăn dạo ngoài trung tâm mua sắm được không? Chắc
chắn rồi, ngài thị trưởng trả lời. Vài tuần sau đó, có một đám đông nhỏ tập trung
gần Masjid al-Kufa, hay nhà thờ Great Mosque of Kufa. Đến buổi chiều, đám đông
lớn dần. Vài người bắt đầu hô những khẩu hiệu giận dữ. Cảnh sát Iraq vì cảm thấy
rắc rối đã đánh điện qua radio cho căn cứ nhờ quân đội Mỹ chuẩn bị hành động.
Đến chạng vạng, đám đông bắt đầu đói và lo lắng. Mọi người tìm kiếm những
người bán thịt xiên nướng thường ở khắp trung tâm mua sắm nhưng lúc đó chẳng
tìm thấy ai. Người xem bỏ đi. Những người hò hét cũng bắt đầu chán nản. Đến 8
giờ tối, tất cả đều rời đi.
Khi tôi đến căn cứ quân sự gần Kufa, tôi đã có cuộc nói chuyện với ngài thị trưởng.
Ngài thị trưởng bảo tôi: “Ông không cần phải xem động lực của đám đông là theo
thói quen”. Nhưng ông ấy đã dành toàn bộ sự nghiệp vào nghiên cứu tâm lý học
của sự hình thành thói quen.
Tại doanh trại quân đội, ông rèn luyện thói quen nạp đạn vũ khí, ngủ ở vùng chiến
sự, duy trì sự tập trung giữa chiến trường hỗn loạn, ra quyết định khi đang kiệt
sức và choáng váng. Ông tham gia các lớp dạy thói quen tiết kiệm, tập thể dục
hàng ngày và giao tiếp với bạn ngủ chung giường tầng. Khi được thăng chức, ông
tìm hiểu tầm quan trọng của thói quen tổ chức trong việc bảo đảm cấp dưới có thể
ra quyết định mà không phải lúc nào cũng hỏi ý kiến cấp trên và làm sao lề thói
đúng đắn hàng ngày có thể giúp ông làm việc dễ dàng hơn cùng với những người
ông không ưa. Giờ đây, với vai trò một nhà xây dựng đất nước bằng ứng khẩu, ông
đang xem xét làm thế nào đám đông và văn hóa tiếp tục tồn tại bằng những quy
định giống nhau. Trong suy nghĩ của mình, ông cho rằng cộng đồng là một tập hợp
lớn những thói quen của hàng ngàn người, cách thức nó bị tác động có thể dẫn đến
bạo lực hay hòa bình. Bên cạnh việc ngăn cản những người bán thức ăn dạo, ông
đã tiến hành rất nhiều thí nghiệm khác ở Kufa để tác động đến những thói quen
của dân cư. Kể từ khi ông đến chưa từng có cuộc bạo động nào.
“Am hiểu thói quen là điều quan trọng nhất tôi học được trong quân đội”, ngài thị
trưởng kể với tôi. “Nó thay đổi cách tôi nhìn thế giới. Bạn muốn ngủ thật nhanh và
thức dậy trong trạng thái tốt nhất ư? Hãy chú ý đến những việc bạn làm ban đêm
và những gì bạn hay làm khi thức dậy. Bạn muốn chạy dễ dàng hơn? Hãy tạo ra
động lực để biến nó trở thành công việc hàng ngày. Tôi luyện cho con tôi những
công việc nhỏ như thế. Tôi cùng vợ tôi viết ra kế hoạch thói quen trong đời sống
vợ chồng. Đó là tất cả những gì chúng tôi nói trong các buổi gặp mặt. Không một ai
ở Kufa nói với tôi rằng chúng ta có thể tác động đến đám đông bằng cách dẹp bỏ
những gian hàng bán thịt xiên nướng, nhưng một khi bạn nhìn mọi thứ là những
thói quen, bạn cảm thấy ai đó đã cho bạn một tín hiệu hay cần gạt để làm việc đó.”
Ngài thị trưởng là một người nghèo khổ đến từ Georgia. Ông không ngừng phun
hạt hướng dương hay sợi thuốc đã nhai rồi vào một cái tách. Ông nói với tôi, trước
khi vào quân đội, lựa chọn nghề nghiệp tốt nhất của ông là sửa đường dây điện
thoại, hoặc một người bán chất kích thích, con đường mà vài người bạn phổ thông
của ông đã chọn. Bây giờ, ông là người giám sát 800 quân lính ở một trong những
tổ chức chiến đấu phức tạp nhất thế giới.
“Tôi đang nói với anh, nếu một kẻ quê mùa như tôi có thể hiểu được những điều
như thế thì bất kỳ ai cũng có thể. Lúc nào tôi cũng nói với các binh lính của
tôi rằng không gì bạn không thể làm được nếu bạn có thói quen đúng.”
Vào những thập kỷ trước, chúng ta đã mở mang hiểu biết về thần kinh học, tâm lý
học thói quen và cách những cấu trúc đó hoạt động trong cuộc sống, xã hội và các
tổ chức theo cách mà chúng ta đã không tưởng tượng đến 50 năm trước. Bây giờ
chúng ta biết được tại sao thói quen hình thành, nó thay đổi như thế nào và khoa
học đằng sau những quy trình đó. Chúng ta biết cách chia chúng thành từng thành
phần và xây dựng nó lại theo cách của chúng ta. Chúng ta hiểu làm thế nào để mọi
người ăn ít hơn, tập thể dục nhều hơn, làm việc hiệu quả hơn và sống khỏe mạnh
hơn. Thay đổi một thói quen không dễ dàng hay nhanh chóng. Nó chẳng bao giờ
đơn giản.
Nhưng hoàn toàn có thể. Và giờ đây, chúng ta biết cách làm thế nào.
Phần một
Các thói quen cá nhân
1. Vòng lặp của thói quen
Cách thức thói quen hoạt động
I.
Mùa thu năm 1993, một người đàn ông lo lắng về việc chúng ta biết gì về thói
quen bước vào phòng thí nghiệm ở San Diego cho một cuộc gặp đã hẹn trước. Ông
đã lớn tuổi, cao hơn 1m8 và ăn mặc gọn gàng với một cái áo sơ mi cài kín cổ. Mái
tóc trắng mỏng của ông sẽ khiến mọi người ghen tị trong bất kỳ cuộc họp lớp phổ
thông lần thứ 50 nào. Chứng viêm khớp làm ông đi hơi khập khiễng khi đi qua tiền
sảnh phòng thí nghiệm, ông nắm tay vợ, đi chầm chậm như thể không chắc chắn
bước đi tiếp sẽ dẫn đến đâu.
Khoảng một năm trước đó, Eugene Pauly, hay “E.P”, người được biết đến trong các
tài liệu y học, đã về nhà ở Playa del Rey, chuẩn bị bữa tối và vợ ông nói rằng con
trai họ, Michael, đang đến nhà.
“Ai là Michael?”, Eugene hỏi
“Con của chúng ta,” Beverly, vợ ông trả lời. “Ông biết mà, đứa con chúng ta đã nuôi
lớn.”
Eugene ngây ra nhìn vợ mình. “Đó là ai?” ông hỏi.
Ngày tiếp theo, Eugene bắt đầu nôn mửa và đau quằn quại vì chứng co thắt dạ
dày. Trong vòng 24 giờ, sự mất nước càng nghiêm trọng nên Beverly vì hoảng sợ
đã đưa ông đến phòng cấp cứu. Thân nhiệt bắt đầu tăng, lên đến hơn 40 độ C,
người ông ướt đẫm mồ hôi, thấm trên ga trải giường của bệnh viện. Ông bắt đầu
mê sảng rồi trở nên hung dữ, la hét đẩy y tá khi họ đang cố gắng đặt ống truyền
vào tay ông. Sau khi thuốc giảm đau có tác dụng, bác sĩ mới có thể đưa kim vào
giữa hai đốt sống chỗ thắt lưng của ông và lấy một vài giọt dịch tủy.
Người bác sĩ tiến hành thủ tục ngay lập tức cảm thấy có vấn đề. Máu quanh não và
dây thần kinh cột sống ngăn chặn sự nhiễm trùng và tổn thương. Với những người
khỏe mạnh, dịch tủy di chuyển và chảy nhanh, rõ ràng theo dòng rất mượt qua
cây kim. Mẫu lấy từ xương sống của Eugene vẩn đục và nhỏ giọt một cách chậm
chạp như thể nó có rất nhiều hạt cát cực nhỏ. Khi có kết quả từ phòng thí nghiệm,
bác sĩ của Eugene đã hiểu được tại sao ông mắc bệnh, ông bị nhiễm vi rút viêm
não, gây ra bệnh rộp môi và nhiễm trùng nhẹ trên da. Tuy nhiên trong một số
trường hợp hiếm, vi rút có thể lên não, gây ra tổn thương lớn như nó gặm nhấm
qua những nếp gấp của mô nơi chúng ta suy nghĩ và mơ tưởng.
Bác sĩ của Eugene báo với Beverly họ không thể làm gì để chống lại tổn thương đã
hình thành nhưng một liều thuốc mạnh chống vi rút sẽ hạn chế nó lây lan. Eugene
rơi vào tình trạng hôn mê khoảng 10 ngày và đang cận kề với cái chết. Dần dần,
thuốc phát huy tác dụng, cơn sốt giảm dần và vi rút biến mất. Khi tỉnh lại, ông rất
yếu, mất phương hướng và không thể ăn uống bình thường. Ông không thể nói
thành câu và thỉnh thoảng thở một cách khó nhọc như thể có lúc ông đã quên cách
thở. Nhưng ông vẫn còn sống.
Cuối cùng, Eugene đã đủ khỏe để tham gia một loạt kiểm tra. Bác sĩ rất ngạc nhiên
khi cơ thể ông, trong đó có hệ thần kinh, không có tổn thương nào lớn. Bản chụp
cắt lớp não của ông cho thấy một dấu vết đáng lo ngại gần trung tâm não. Vi rút đã
phá hủy một mô hình bầu dục gần hộp sọ và cột sống. “Ông ấy có thể không nhớ
cô,” một bác sĩ cảnh báo với Beverly. “Cô cần chuẩn bị tinh thần nếu ông ấy ra đi.”
Eugene được chuyển đến một khoa khác trong bệnh viện. Trong vòng một tuần,
ông nuốt thức ăn dễ dàng. Tuần tiếp theo, ông bắt đầu nói chuyện bình thường,
yêu cầu món tráng miệng Jell-O và muối, lướt nhanh các kênh ti vi và phàn nàn về
một vở kịch nhiều kỳ buồn chán. Khi ông được chuyển đến trung tâm phục hồi
chức năng 5 tuần sau đó, Eugene đi xuống tiền sảnh và cho các y tá lời khuyên cho
kế hoạch cuối tuần.
“Tôi chưa từng thấy ai hồi sinh thế này,” một bác sĩ nói với Beverly. “Tôi thực sự
không muốn gieo hy vọng cho cô, nhưng điều này thật tuyệt vời.”
Tuy nhiên, Beverly vẫn còn lo lắng. Ở bệnh viện phục hồi chức năng, rõ ràng căn
bệnh đã thay đổi chồng bà theo hướng đáng lo ngại. Eugene không thể nhớ đó là
ngày nào trong tuần, hay như tên của những bác sĩ và y tá chữa trị mặc dù họ đã
tự giới thiệu rất nhiều lần. “Tại sao họ vẫn lặp lại những câu hỏi đó với tôi?” ông
hỏi Beverly sau khi một bác sĩ ra khỏi phòng ông. Khi ông trở về nhà, mọi thứ còn
trở nên lạ lùng hơn. Eugene có vẻ không nhớ gì bạn bè. Ông gặp khó khăn trong
các cuộc hội thoại. Có những buổi sáng, ông bước ra khỏi giường, vào bếp, tự nấu
thịt lợn muối xông khói và trứng, rồi leo lên giường và bật đài. 40 phút sau, ông lại
làm những việc giống như thế: thức dậy, nấu thịt lợn xông khói và trứng, trở lại
giường và nghịch cái đài. Rồi ông lại làm lại những việc đó.
Lo sợ, Beverly tìm đến các chuyên gia, có cả một nhà nghiên cứu ở đại học
Carlifornia, San Diego với chuyên ngành về mất trí nhớ. Vào một ngày thu nắng
đẹp, Beverly cùng Eugene đến một tòa nhà không có gì nổi bật trong khuôn viên
trường đại học, nắm tay nhau và bước chậm rãi qua tiền sảnh. Họ được đưa tới
một căn phòng kiểm tra nhỏ. Eugene bắt đầu nói chuyện với một người phụ nữ trẻ
đang sử dụng máy vi tính.
“Làm việc trong ngành điện tử nhiều năm, điều làm tôi ngạc nhiên nhất là nó,” ông
nói và chỉ vào cái máy mà cô ta đang gõ chữ. “Khi tôi còn trẻ tuổi, cái vật đó nằm
trên hai cái giá gác cao khoảng 2 mét và chiếm toàn bộ căn phòng.”
Người phụ nữ tiếp tục gõ bàn phím. Eugene cười thầm.
“Thật là kỳ lạ,” ông nói. “Những thứ mạch in, ống hai cực và ống ba cực này. Khi tôi
còn làm điện tử, hai cái giá đỡ cao 2 mét giữ những thứ đó.”
Một nhà khoa học vào phòng và tự giới thiệu mình. Ông hỏi Eugene bao nhiêu tuổi
rồi.
“Ồ, xem nào, 59 hay 60?” Eugene đáp lời. Thực sự ông đã 71 tuổi rồi.
Nhà khoa học bắt đầu gõ máy vi tính. Eugene mỉm cười và chỉ vào nó. “Nó thật sự
là cái gì đó,” ông nói. “Ông biết đấy, khi tôi còn làm điện tử, hai cái giá đỡ cao 2 mét
giữ thứ này.”
Nhà khoa học Larry Squire, 52 tuổi, là một giáo sư đã dành 30 năm nghiên cứu cấu
trúc hệ thần kinh của trí nhớ. Chuyên ngành của ông là khám phá cách bộ não lưu
giữ các sự kiện. Tuy nhiên, công trình của ông với Eugene sẽ nhanh chóng mở ra
một thế giới mới cho ông và hàng trăm nhà nghiên cứu khác, nó đã phục hồi
những hiểu biết của chúng ta về cách thói quen hoạt động. Nghiên cứu của Squire
sẽ chỉ ra rằng những người dù không thể nhớ tuổi của mình hay hầu như mọi thứ
vẫn có thể phát triển những thói quen cực kỳ phức tạp, cho đến khi bạn nhận ra
rằng ai cũng dựa vào những quá trình thần kinh giống nhau mỗi ngày. Nghiên cứu
của ông và những người khác sẽ tiết lộ, cơ chế thuộc về tiềm thức con người ảnh
hưởng đến vô số lựa chọn như thể nó là sản phẩm của những suy nghĩ rất hợp lý
nhưng thực tế lại bị ảnh hưởng bởi những tác động mà chúng ta ít nhận ra hay
hiểu được.
Ngay lúc Squire gặp Eugene, ông đã nghiên cứu hình ảnh não của Eugene hàng
tuần. Bản chụp cắt lớp chỉ ra, hầu như mọi tổn thương trong hộp sọ của Eugene bị
giới hạn trong một khu vực rộng 5cm gần trung tâm não. Con vi rút phá hủy gần
như toàn bộ thùy thái dương trung gian, một mảnh của những tế bào mà các nhà
khoa học nghi ngờ là quan trọng với các chức năng nhận thức như gợi lại quá khứ
và điều chỉnh một vài cảm xúc. Squire không ngạc nhiên trước sự phá hủy hoàn
toàn đó, viêm não do vi rút phá hủy mô liên tục và chính xác như phẫu thuật.
Nhưng điều làm ông bất ngờ là mức độ giống nhau của các hình ảnh đó.
30 năm trước, là một học viên học bằng tiến sĩ ở MIT, Squire đã làm việc cùng một
nhóm nghiên cứu một người đàn ông được biết đến là “H.M”, một trong những
bệnh nhân nổi tiếng trong lịch sử y học. Khi H.M, tên thật là Henry Molaison
nhưng các nhà khoa học đã che giấu căn cước của ông suốt đời, được 7 tuổi, ông bị
xe đạp tông phải và đập mạnh đầu xuống đường. Không lâu sau đó, ông mắc chứng
co giật và bắt đầu bất tỉnh. Vào năm 16 tuổi, chứng động kinh nặng của ông lần
đầu tiên phát lộ và nó ảnh hưởng đến toàn bộ não, sau đó, ông bất tỉnh khoảng 10
lần một ngày.
Khi bước sang tuổi 27, H.M không còn hy vọng chữa khỏi. Thuốc chống co giật
không còn tác dụng. Ông thông minh nhưng không thể làm việc gì. Ông vẫn còn
sống chung với bố mẹ. H.M mong muốn một sự tồn tại bình thường. Vì thế ông đã
tìm kiếm sự giúp đỡ từ một bác sĩ mà sự ham muốn thí nghiệm đã vượt xa nỗi sợ
về sai sót y học. Nghiên cứu đã cho thấy một khu vực trong não bộ gọi là hồi hải
mã có thể có vai trò quan trọng trong sự co giật. Khi bác sĩ đề nghị can thiệp vào
đầu của H.M, nâng phần trước của não và dùng một ống nhỏ hút phần hồi hải mã
và một vài mô xung quanh ra từ bên trong não của ông, H.M đồng ý.
Cuộc phẫu thuật diễn ra vào năm 1953 và vì H.M được chữa khỏi, cơn co giật của
ông bị làm chậm lại. Tuy nhiên, gần như lập tức, não của ông rõ ràng đã bị biến đổi
hoàn toàn. H.M biết tên của mình và mẹ ông đến từ Ireland. Ông có thể nhớ thị
trường chứng khoán 1929 sụp đổ và tường thuật mới về cuộc xâm lược ở
Normandy. Nhưng gần như mọi thứ xảy ra sau đó, mọi ký ức, kinh nghiệm và cố
gắng từ hàng chục năm trước phẫu thuật, đã bị xóa bỏ. Khi một bác sĩ bắt đầu
kiểm tra trí nhớ của H.M bằng việc hướng dẫn ông cách chơi bài và các dãy số, ông
nhận ra H.M không thể nhớ được bất cứ thông tin mới nào hơn 20 giây.
Từ ngày phẫu thuật đến ngày mất vào năm 2008, mọi người H.M gặp, mọi bài hát
ông nghe, mọi căn phòng ông vào đều hoàn toàn là những trải nghiệm mới. Não
của ông đã bị đóng băng. Mỗi ngày, việc ai đó có thể chuyển kênh ti vi bằng cách
chỉ vào một nút nhựa màu đen trên màn hình làm ông bối rối. Ông tự giới thiệu
mình với các bác sĩ và y tá hết lần này đến lần khác, hàng chục lần mỗi ngày.
“Tôi thích tìm hiểu H.M, vì trí nhớ có vẻ là một cách thú vị và rõ ràng để tìm hiểu
não bộ,” Squire nói với tôi. “Tôi lớn lên ở Ohio, và tôi có thể nhớ năm lớp Một, khi
cô giáo tôi cầm bút màu của tất cả mọi người và tôi bắt đầu trộn các màu để xem
chúng có thành màu đen không. Tại sao tôi có thể nhớ điều đó nhưng không thể
nhớ cô giáo tôi trông như thế nào? Tại sao não của tôi lại quyết định ký ức này
quan trọng hơn ký ức khác?”
Khi Squire nhận được hình ảnh não của Eugene, ông kinh ngạc khi thấy nó có vẻ
giống với hình ảnh của H.M. Có một khoảng trống cỡ quả hồ đào trong đầu hai
người. Trí nhớ của Eugene cũng như của H.M đều đã bị mất đi.
Squire bắt đầu kiểm tra Eugene, ông nhận thấy bệnh nhân này khác với H.M ở
một vài điểm cần nghiên cứu thêm. Trong khi lúc gặp H.M, gần như mọi người đều
biết có điều gì đó sai sót, thì Eugene có thể nói chuyện và làm những việc mà người
bình thường sẽ không nhận ra sai sót. Cuộc phẫu thuật của H.M gây suy nhược
nặng nên ông được đưa vào cơ sở từ thiện để được chăm sóc trong thời gian còn
lại. Ngược lại, Eugene sống tại nhà cùng vợ. H.M còn không thể nói chuyện bình
thường. Eugene trái lại có sự thông thạo đáng kinh ngạc trong việc dẫn dắt bất kỳ
cuộc thảo luận nào về vấn đề ông cảm thấy thoải mái khi trò chuyện trong thời
gian d...
Sức mạnh của thói quen
Chia sẽ ebook : https://sachmoi.net
Follow us on Facebook : https://www.facebook.com/sachmoi.net
Phần mở đầu
Cải tạo thói quen
Cô là đối tượng tham gia yêu thích của các nhà khoa học.
Theo hồ sơ, Lisa Allen, 34 tuổi, đã bắt đầu hút thuốc lá và uống rượu từ năm 16
tuổi và đấu tranh chống lại bệnh béo phì suốt cuộc đời. Khi cô ở độ tuổi hai mươi,
có lúc các công ty thu hồi nợ đã tìm kiếm ráo riết cô để đòi khoản nợ 10.000 đô-la.
Một bản sơ yếu lý lịch cũ cho thấy công việc lâu nhất cô làm là gần một năm.
Tuy nhiên, người phụ nữ trước mặt các nhà nghiên cứu hôm nay thanh mảnh và
tràn đầy sức sống, với đôi chân rắn chắc của một vận động viên điền kinh. Trông
cô trẻ hơn đến mười tuổi so với bức ảnh trong hồ sơ và chừng như cô có thể luyện
tập tốt hơn bất kỳ ai trong phòng. Theo báo cáo gần đây nhất trong hồ sơ, hiện cô
không còn khoản nợ nào, không uống rượu và đã làm việc ở một công ty thiết kế
đồ họa được 3 năm 3 tháng.
“Lần cuối cùng cô hút thuốc là khi nào?” một bác sĩ trị liệu hỏi, bắt đầu cho một
chuỗi câu hỏi mà Lisa trả lời mỗi lần cô đến phòng thí nghiệm bên
ngoài Bethesda thuộc Maryland.
“Gần 4 năm trước, tôi đã sụt 27kg và bắt đầu chạy ma-ra-tông từ đó,” cô trả lời. Cô
cũng bắt đầu tham gia khóa học lấy bằng thạc sĩ và mua nhà. Đó là quãng thời gian
có rất nhiều sự kiện xảy ra.
Trong phòng gồm nhà chuyên khoa thần kinh, nhà tâm lý học, nhà di truyền học
và một nhà xã hội học. Ba năm qua, với nguồn tài trợ từ Viện Y tế Quốc gia, đội ngũ
này đã tìm hiểu về Lisa và hơn 24 người khác là những người đã từng hút thuốc lá,
ăn uống vô độ, người say xỉn có vấn đề, người bị ám ảnh mua sắm và người có thói
quen không tốt. Tất cả những người tham gia đều có một điểm chung, họ đã làm
lại cuộc đời trong khoảng thời gian rất ngắn. Vì thế, các nhà nghiên cứu muốn tìm
hiểu xem điều đó đã xảy ra như thế nào. Để làm điều này, họ xem xét những biểu
hiệu quan trọng của các đối tượng, lắp đặt camera quan sát trong nhà để ghi lại
hoạt động hàng ngày, xem xét một phần chuỗi AND được sắp xếp trình tự, quan
sát bên trong não đối tượng nhờ vào công nghệ hiện đại, quan sát xung lực máu và
điện từ trong não khi người tham gia chịu tác động do sự cám dỗ của khói thuốc lá
và những bữa ăn thịnh soạn. Mục đích của các nhà khoa học là tìm ra thói quen tác
động thế nào đến thần kinh và làm gì để thay đổi thói quen.
“Tôi biết cô đã kể chuyện này hàng chục lần, nhưng vài đồng nghiệp của tôi chỉ
được nghe kể lại. Cô có thể mô tả lại mình đã bỏ thuốc lá thế nào không?” người
bác sĩ đề nghị Lisa.
“Chắc chắn rồi,” Lisa đáp, “Mọi chuyện bắt đầu ở Cairo.” Kỳ nghỉ đó là một quyết
định vội vàng, cô khẳng định. Vài tháng trước đó, chồng cô trở về sau khi hoàn
thành công việc và thông báo anh ta sẽ đi vì yêu một cô gái khác. Lisa mất một thời
gian để giải quyết chuyện phản bội và cuốn vào cuộc ly hôn. Khoảng thời gian đó
thật sự đau đớn, cô bị ám ảnh việc bí mật theo dõi chồng mình và người phụ nữ
đó, cô đã gọi điện thoại cho cô ta sau nửa đêm và gác máy. Sau đó, vào một buổi
chiều nọ, Lisa đến nhà người phụ nữ ấy, say xỉn, đập cửa và la hét giận dữ rằng cô
sẽ đốt căn nhà.
“Đó chẳng phải là quãng thời gian tốt đẹp gì, lúc nào tôi cũng muốn xem kim tự
tháp và vì thẻ tín dụng của tôi cũng chưa đến giới hạn nợ, thế nên…” Lisa tiếp tục.
Buổi sáng đầu tiên ở Cairo, Lisa thức dậy từ sớm tinh mơ khi nghe thấy tiếng kinh
cầu nguyện cất lên từ một nhà thờ gần đó. Phòng khách sạn vẫn tối đen như mực.
Vẫn còn ngái ngủ và mệt mỏi sau chuyến bay dài, cô châm một điếu thuốc.
Cô không nhận ra mình đang cố châm lửa một cây bút chứ không phải một điếu
Marlboro cho đến khi có mùi nhựa cháy bốc lên. Bốn tháng trước, cô chỉ biết khóc
lóc, ăn uống bất thường, mất ngủ và cảm thấy xấu hổ, vô vọng, chán nản và giận
dữ. Nằm trên giường, cô thấy mình đang dần kiệt sức. “Giống như lớp lớp nỗi
buồn kéo đến, mọi thứ tôi từng mong muốn đã hoàn toàn sụp đổ trước mắt. Thậm
chí, tôi còn không thể hút thuốc sao cho đúng.”
“Rồi tôi bắt đầu nghĩ về người-chồng-cũ, về việc sẽ khó khăn thế nào để tìm một
công việc mới khi về nhà, viêc tôi ghét cay ghét đắng công việc đó, và tôi thấy
không khỏe ra sao. Tôi đứng dậy, đập vỡ một bình nước khiến nó vương vãi khắp
sàn nhà và bắt đầu khóc nhiều hơn. Tôi cảm thấy tuyệt vọng, có lẽ phải thay đổi
điều gì đó, ít nhất là điều tôi có thể kiểm soát được.”
Cô tắm táp và rời khách sạn. Cô lái xe dọc những con đường mòn của Cairo, những
con đường lầy lội dẫn đến kim tự tháp Sphinx ở khu lăng mộ Giza và sa mạc rộng
lớn, bất tận bao quanh nó, trong một khoảnh khắc, cảm giác thương hại bản thân
tan biến. Cô thầm nghĩ, mình phải có một mục tiêu cho cuộc đời, một cái gì đó để
hướng đến.
Vì thế khi trong xe taxi, cô đã quyết định trở về Ai Cập và thực hiện một chuyến đi
bộ qua sa mạc.
Lisa biết đó là một ý tưởng điên rồ. Cô đang thừa cân, sức khỏe không tốt và không
còn tiền trong ngân hàng. Cô không biết tên sa mạc mình đang tìm kiếm hay
chuyến đi đó có thể hay không. Nhưng dù thế nào, đó cũng không phải là vấn đề.
Cô cần điều gì đó để tập trung vào. Lisa quyết định sẽ dành một năm để chuẩn bị
cho điều đó. Để vượt qua hành trình, cô biết mình phải hy sinh điều gì.
Cụ thể hơn, cô cần phải bỏ thuốc lá.
11 tháng sau, cuối cùng Lisa cũng băng qua sa mạc với 6 người khác trên một
chiếc xe có máy lạnh. Đoàn lữ hành mang theo rất nhiều nước, thức ăn, lều, bản
đồ, hệ thống định vị toàn cầu, radio thu phát hai chiều, nếu có ném thêm một
thùng thuốc lá thì cũng chẳng có gì khác biệt.
Nhưng khi trong xe taxi, Lisa không biết điều đó. Theo các nhà khoa học ở phòng
thí nghiệm, chi tiết của chuyến đi vất vả đó không hề liên quan. Vì họ bắt đầu nhận
thấy, sự thay đổi nhỏ trong nhận thức của Lisa ngày ở Cairo, rằng cô tin chắc bỏ
thuốc lá để đạt được mục tiêu của mình, đã tạo ra một chuỗi những thay đổi ảnh
hưởng đến cuộc sống sau này của cô. Sáu tháng sau, cô đã thay thế thuốc lá bằng
chạy bộ và lần lượt thay đổi cách ăn uống, làm việc, nghỉ ngơi, lên lịch làm việc, dự
tính tương lai, v.v… Cô bắt đầu chạy ma-ra-tông, trở lại trường học, mua nhà và
kết hôn. Cuối cùng, cô được tuyển dụng vào làm nghiên cứu khoa học và
khi các nhà nghiên cứu bắt đầu xem xét hình ảnh não bộ của Lisa, họ tìm thấy vài
thứ khác lạ, một cấu trúc thần kinh – thói quen cũ của cô – đã được thay thế bằng
cấu trúc mới. Họ vẫn có thể nhìn thấy hoạt động thần kinh của những thói quen cũ
nhưng những xung lực đó đã bị đẩy ra bằng sự thúc đẩy mới. Vì thói quen của Lisa
thay đổi, não của cô cũng thế.
Các nhà khoa học tin rằng chuyến đi đến Cairo, cũng như cuộc ly hôn hay chuyến
đi qua sa mạc không phải là nguyên nhân của sự thay đổi. Nguyên nhân là Lisa đã
tập trung thay đổi chỉ một thói quen duy nhất: hút thuốc lá. Những người tham
gia vào quá trình nghiên cứu của các nhà khoa học cũng trải qua quy trình tương
tự. Bằng việc tập trung vào một dạng duy nhất được gọi là “thói quen cơ bản”, Lisa
đã tự dạy mình cách sửa lại những hoạt động khác trong cuộc sống.
Không phải chỉ cá nhân mới có thể thay đổi. Khi công ty thay đổi thói quen, toàn
bộ tổ chức sẽ chuyển đổi theo. Các công ty như Procter & Gamble, Starbucks,
Alcoa và Target tận dụng được sự hiểu biết sâu sắc này để tác động đến việc hoàn
thành công việc, cách mọi người giao tiếp và cách khách hàng mua sắm mà họ
không hề nhận ra.
“Tôi muốn cho cô xem một bản chụp cắt lớp gần đây,” một nhà nghiên cứu nói với
cô khi sắp kết thúc bài kiểm tra. Ông đặt tấm hình có hình ảnh bên trong đầu cô
lên màn hình máy vi tính. “Khi cô nhìn thấy thức ăn, những khu vực này”, ông chỉ
vào một chỗ gần trung tâm não của cô, “liên quan đến cơn đói vẫn sẽ hoạt động.
Não cô sẽ tạo ra chất kích thích làm cô ăn nhiều hơn.”
“Tuy nhiên, có hoạt động mới ở khu vực này” – ông chỉ vào khu vực gần với trán
nhất – “nơi mà sự kiềm chế và tự kiểm soát bắt đầu. Hoạt động đó sẽ mạnh hơn
mỗi lần cô ăn.”
Lisa là đối tượng tham gia yêu thích của các nhà khoa học vì bản chụp cắt lớp não
của cô rất thuyết phục và có ích để tạo ra một bản đồ về nơi có cấu trúc lề thói –
thói quen - trong tâm trí con người. “Cô đã giúp chúng tôi hiểu được một quyết
định trở thành lề thói tự động thế nào”, người bác sĩ nói với cô.
Mọi người trong phòng cảm thấy họ đang bên bờ vực của điều gì đó quan trọng.
Và thực sự như vậy.
* * *
Khi thức dậy vào buổi sáng, bạn sẽ làm gì đầu tiên? Có phải bạn sẽ tắm vội, kiểm
tra email hay lấy một cái bánh nướng từ quầy bếp? Bạn đánh răng trước hay sau
khi lau khô mình? Bạn buộc dây giày trái hay phải trước? Bạn nói gì với các con
khi đi ra cửa? Bạn chọn đường nào để lái xe đi làm? Khi đến bàn làm việc, bạn sẽ
giải quyết mail, chat với đồng nghiệp hay vội vàng lên kế hoạch làm việc trước?
Bữa trưa bạn ăn rau trộn hay bánh hăm-bơ-gơ? Khi về nhà, bạn sẽ thay giày đế
mềm và đi bộ hay ăn tối, xem ti vi và uống một cốc rượu?
Năm 1892, William James viết: “Toàn bộ cuộc sống chúng ta là một tổng thể các
thói quen, dù trong chừng mực nào đó nó có một hình thái nhất định.” Hầu hết
những lựa chọn hàng ngày có vẻ là kết quả của sự quyết định đã được xem xét kỹ
càng nhưng thật sự không phải vậy. Đó là thói quen. Và mặc dù mỗi thói quen có
tác dộng không lớn, theo thời gian, món ăn chúng ta gọi, lời chúng ta nói với con
cái mỗi đêm, chúng ta tiêu xài hay tiết kiệm, chúng ta tập thể dục thường xuyên
thế nào và cách chúng ta tổ chức suy nghĩ, công việc hàng ngày có ảnh hưởng lớn
đến sức khỏe, năng suất lao động, an toàn tài chính và hạnh phúc của ta. Bài báo
của một nhà nghiên cứu ở trường Đại học Duke năm 2006 đã kết luận rằng hơn
40% lề thói hàng ngày của con người không phải là quyết định thực sự mà là thói
quen.
William James cũng như nhiều người khác, từ Aristotle đến Oprah, dành hầu hết
cuộc đời để tìm hiểu thói quen tồn tại thế nào. Nhưng chỉ trong hai thập kỷ vừa
qua, các nhà khoa học và nhà tiếp thị mới bắt đầu hiểu được thói quen hoạt
động như thế nào và quan trọng hơn, nó thay đổi thế nào.
Cuốn sách này được chia làm ba phần. Phần một nói về cách thức hình thành thói
quen trong cuộc sống mỗi người. Chúng tôi nghiên cứu cấu trúc thần kinh của việc
hình thành thói quen, làm thế nào để tạo thói quen mới và thay đổi cái cũ và
những phương pháp, ví dụ như một nhân vật quảng cáo đẩy bàn chải đánh răng
một cách khó hiểu đã trở thành nỗi ám ảnh lớn lao. Nó giải thích Procter & Gamble
đã hóa một ống xịt Febreze thành một vụ kinh doanh trị giá hàng tỉ đô-la nhờ vào
sự thúc đẩy theo thói quen của khách hàng như thế nào, Alcoholics Anonymous
thay đổi cuộc sống bằng cách khắc phục thói quen quyết định của thói nghiện như
thế nào và trọng tài Tony Dungy đã đảo ngược vận mệnh của đội bóng yếu nhất
trong Liên đoàn Bóng đá Quốc gia bằng cách tập trung vào những phản ứng tự
nhiên của các cầu thủ trước những gợi ý tinh vi đang diễn ra trong trận đấu như
thế nào.
Phần hai xem xét những thói quen của các công ty và tổ chức đã thành công. Cụ
thể, nó giải thích việc nhà lãnh đạo Paul O'Neill trước khi trở thành thư ký bộ tài
chính đã biến một nhà sản xuất nhôm đang vật lộn thành nhà sản xuất hàng đầu ở
khu công nghiệp Dow Jones bằng cách tập trung vào thói quen quyết định như thế
nào; và làm thế nào Starbucks đưa một người bỏ học trung học giữa chừng thành
nhà quản lý hàng đầu bằng cách truyền dẫn những thói quen giúp nâng cao ý chí.
Nó cũng giải thích tại sao một bác sĩ phẫu thuật tài năng có thể mắc những lỗi
thảm khốc khi thói quen tổ chức của bệnh viện không như ý muốn.
Phần ba nói về các thói quen xã hội. Nó kể lại chi tiết việc Martin Luther King và
cuộc vận động quyền dân chủ thành công một phần bằng cách thay đổi thói quen
cố hữu của xã hội Montgomery, Alabama và tại sao Rick Warren, một vị mục
sư lại xây dựng được nhà thờ lớn nhất nước ở thung lũng Saddleback thuộc bang
Carlifornia. Cuối cùng, nó lý giải những vấn đề đạo đức hóc búa như một tên sát
nhân ở Anh có nên được thả tự do không nếu hắn có thể thuyết phục rằng thói
quen của hắn dẫn đến việc giết người.
Mỗi chương suy xét xung quanh một lý lẽ quan trọng: Thói quen có thể thay đổi
được nếu chúng ta hiểu được cách thức nó hoạt động.
Cuốn sách này dẫn đến hàng trăm nghiên cứu học thuật, bài phỏng vấn trên 300
nhà khoa học và lãnh đạo, nghiên cứu tiến hành tại nhiều công ty. (Để biết thêm về
số liệu các nguồn, xin tham khảo ghi chú của cuốn sách và
trang http://www.thepowerofhabit.com.) Nó tập trung vào những thói quen
được định nghĩa chính xác: những lựa chọn mà tất cả chúng ta quyết định theo
chủ ý tại thời điểm nào đó và sau đó dù không tiếp tục suy nghĩ nhưng vẫn còn
thực hiện thường xuyên mỗi ngày. Vào một thời điểm, chúng ta quyết định nên ăn
uống bao nhiêu, tập trung vào điều gì khi đến văn phòng, nên uống rượu hay đi bộ
thường xuyên thế nào. Sau đó chúng ta ngừng quyết định và lề thói đó tiếp tục xảy
ra. Đó là kết quả hiển nhiên của hệ thần kinh. Và khi hiểu được cách nó xảy ra, bạn
có thể xây dựng lại cấu trúc đó theo cách bạn lựa chọn.
* * *
Tôi bắt đầu quan tâm đến khoa học về thói quen lần đầu tiên khi đọc được một bài
báo cáo trên một tờ báo ở Baghdad cách đây 8 năm. Theo quan sát của tôi, quân
đội Mỹ là một trong những thí nghiệm lớn nhất về sự hình thành thói quen trong
lịch sử. Huấn luyện cơ bản dạy cho các binh lính cách tạo thói quen kỹ lưỡng để
biết cách bắn, suy nghĩ và giao tiếp khi có hỏa hoạn. Trên chiến trường, mọi mệnh
lệnh được giao đều dựa trên những lề thói được luyện tập để trở nên nhuần
nhuyễn. Toàn bộ tổ chức dựa trên những thói quen luyện tập không ngừng để xây
dựng căn cứ, đặt định trọng điểm chiến lược và quyết định xem nên đáp trả sự tấn
công của đối phương như thế nào. Trong những ngày đầu nổ ra chiến tranh, sự
nổi loạn ở khắp nơi và chết chóc gia tăng không ngừng, các vị chỉ huy tìm kiếm
những thói quen mà họ có thể truyền dẫn cho binh lính và nhờ thế người Iraq có
thể tạo được hòa bình lâu dài.
Tôi đã ở Iraq được hai tháng khi nghe tin một viên sĩ quan quân đội đang tiến
hành chương trình điều chỉnh thói quen ứng khẩu ở Kufa, một thành phố nhỏ
nằm cách thủ đô 90 dặm về phía nam. Anh ta là một thiếu tá quân đội đã phân tích
những đoạn băng ghi hình các cuộc náo loạn gần đây và tìm ra cấu trúc: Bạo lực
thường mở đầu từ một đám đông người Iraq tụ tập ở trung tâm mua sắm hay
những không gian mở khác, rồi tăng dần về kích cỡ qua vài giờ. Những người bán
thức ăn dạo cũng như người xem sẽ xuất hiện. Rồi có ai đó ném đá hay ném một
cái chai và ồn ào sẽ bũng nổ quá sức tưởng tượng.
Khi viên thiếu tá gặp thị trưởng của Kufa, anh ta đã có một yêu cầu kỳ lạ: có thể
giữ những người bán thức ăn dạo ngoài trung tâm mua sắm được không? Chắc
chắn rồi, ngài thị trưởng trả lời. Vài tuần sau đó, có một đám đông nhỏ tập trung
gần Masjid al-Kufa, hay nhà thờ Great Mosque of Kufa. Đến buổi chiều, đám đông
lớn dần. Vài người bắt đầu hô những khẩu hiệu giận dữ. Cảnh sát Iraq vì cảm thấy
rắc rối đã đánh điện qua radio cho căn cứ nhờ quân đội Mỹ chuẩn bị hành động.
Đến chạng vạng, đám đông bắt đầu đói và lo lắng. Mọi người tìm kiếm những
người bán thịt xiên nướng thường ở khắp trung tâm mua sắm nhưng lúc đó chẳng
tìm thấy ai. Người xem bỏ đi. Những người hò hét cũng bắt đầu chán nản. Đến 8
giờ tối, tất cả đều rời đi.
Khi tôi đến căn cứ quân sự gần Kufa, tôi đã có cuộc nói chuyện với ngài thị trưởng.
Ngài thị trưởng bảo tôi: “Ông không cần phải xem động lực của đám đông là theo
thói quen”. Nhưng ông ấy đã dành toàn bộ sự nghiệp vào nghiên cứu tâm lý học
của sự hình thành thói quen.
Tại doanh trại quân đội, ông rèn luyện thói quen nạp đạn vũ khí, ngủ ở vùng chiến
sự, duy trì sự tập trung giữa chiến trường hỗn loạn, ra quyết định khi đang kiệt
sức và choáng váng. Ông tham gia các lớp dạy thói quen tiết kiệm, tập thể dục
hàng ngày và giao tiếp với bạn ngủ chung giường tầng. Khi được thăng chức, ông
tìm hiểu tầm quan trọng của thói quen tổ chức trong việc bảo đảm cấp dưới có thể
ra quyết định mà không phải lúc nào cũng hỏi ý kiến cấp trên và làm sao lề thói
đúng đắn hàng ngày có thể giúp ông làm việc dễ dàng hơn cùng với những người
ông không ưa. Giờ đây, với vai trò một nhà xây dựng đất nước bằng ứng khẩu, ông
đang xem xét làm thế nào đám đông và văn hóa tiếp tục tồn tại bằng những quy
định giống nhau. Trong suy nghĩ của mình, ông cho rằng cộng đồng là một tập hợp
lớn những thói quen của hàng ngàn người, cách thức nó bị tác động có thể dẫn đến
bạo lực hay hòa bình. Bên cạnh việc ngăn cản những người bán thức ăn dạo, ông
đã tiến hành rất nhiều thí nghiệm khác ở Kufa để tác động đến những thói quen
của dân cư. Kể từ khi ông đến chưa từng có cuộc bạo động nào.
“Am hiểu thói quen là điều quan trọng nhất tôi học được trong quân đội”, ngài thị
trưởng kể với tôi. “Nó thay đổi cách tôi nhìn thế giới. Bạn muốn ngủ thật nhanh và
thức dậy trong trạng thái tốt nhất ư? Hãy chú ý đến những việc bạn làm ban đêm
và những gì bạn hay làm khi thức dậy. Bạn muốn chạy dễ dàng hơn? Hãy tạo ra
động lực để biến nó trở thành công việc hàng ngày. Tôi luyện cho con tôi những
công việc nhỏ như thế. Tôi cùng vợ tôi viết ra kế hoạch thói quen trong đời sống
vợ chồng. Đó là tất cả những gì chúng tôi nói trong các buổi gặp mặt. Không một ai
ở Kufa nói với tôi rằng chúng ta có thể tác động đến đám đông bằng cách dẹp bỏ
những gian hàng bán thịt xiên nướng, nhưng một khi bạn nhìn mọi thứ là những
thói quen, bạn cảm thấy ai đó đã cho bạn một tín hiệu hay cần gạt để làm việc đó.”
Ngài thị trưởng là một người nghèo khổ đến từ Georgia. Ông không ngừng phun
hạt hướng dương hay sợi thuốc đã nhai rồi vào một cái tách. Ông nói với tôi, trước
khi vào quân đội, lựa chọn nghề nghiệp tốt nhất của ông là sửa đường dây điện
thoại, hoặc một người bán chất kích thích, con đường mà vài người bạn phổ thông
của ông đã chọn. Bây giờ, ông là người giám sát 800 quân lính ở một trong những
tổ chức chiến đấu phức tạp nhất thế giới.
“Tôi đang nói với anh, nếu một kẻ quê mùa như tôi có thể hiểu được những điều
như thế thì bất kỳ ai cũng có thể. Lúc nào tôi cũng nói với các binh lính của
tôi rằng không gì bạn không thể làm được nếu bạn có thói quen đúng.”
Vào những thập kỷ trước, chúng ta đã mở mang hiểu biết về thần kinh học, tâm lý
học thói quen và cách những cấu trúc đó hoạt động trong cuộc sống, xã hội và các
tổ chức theo cách mà chúng ta đã không tưởng tượng đến 50 năm trước. Bây giờ
chúng ta biết được tại sao thói quen hình thành, nó thay đổi như thế nào và khoa
học đằng sau những quy trình đó. Chúng ta biết cách chia chúng thành từng thành
phần và xây dựng nó lại theo cách của chúng ta. Chúng ta hiểu làm thế nào để mọi
người ăn ít hơn, tập thể dục nhều hơn, làm việc hiệu quả hơn và sống khỏe mạnh
hơn. Thay đổi một thói quen không dễ dàng hay nhanh chóng. Nó chẳng bao giờ
đơn giản.
Nhưng hoàn toàn có thể. Và giờ đây, chúng ta biết cách làm thế nào.
Phần một
Các thói quen cá nhân
1. Vòng lặp của thói quen
Cách thức thói quen hoạt động
I.
Mùa thu năm 1993, một người đàn ông lo lắng về việc chúng ta biết gì về thói
quen bước vào phòng thí nghiệm ở San Diego cho một cuộc gặp đã hẹn trước. Ông
đã lớn tuổi, cao hơn 1m8 và ăn mặc gọn gàng với một cái áo sơ mi cài kín cổ. Mái
tóc trắng mỏng của ông sẽ khiến mọi người ghen tị trong bất kỳ cuộc họp lớp phổ
thông lần thứ 50 nào. Chứng viêm khớp làm ông đi hơi khập khiễng khi đi qua tiền
sảnh phòng thí nghiệm, ông nắm tay vợ, đi chầm chậm như thể không chắc chắn
bước đi tiếp sẽ dẫn đến đâu.
Khoảng một năm trước đó, Eugene Pauly, hay “E.P”, người được biết đến trong các
tài liệu y học, đã về nhà ở Playa del Rey, chuẩn bị bữa tối và vợ ông nói rằng con
trai họ, Michael, đang đến nhà.
“Ai là Michael?”, Eugene hỏi
“Con của chúng ta,” Beverly, vợ ông trả lời. “Ông biết mà, đứa con chúng ta đã nuôi
lớn.”
Eugene ngây ra nhìn vợ mình. “Đó là ai?” ông hỏi.
Ngày tiếp theo, Eugene bắt đầu nôn mửa và đau quằn quại vì chứng co thắt dạ
dày. Trong vòng 24 giờ, sự mất nước càng nghiêm trọng nên Beverly vì hoảng sợ
đã đưa ông đến phòng cấp cứu. Thân nhiệt bắt đầu tăng, lên đến hơn 40 độ C,
người ông ướt đẫm mồ hôi, thấm trên ga trải giường của bệnh viện. Ông bắt đầu
mê sảng rồi trở nên hung dữ, la hét đẩy y tá khi họ đang cố gắng đặt ống truyền
vào tay ông. Sau khi thuốc giảm đau có tác dụng, bác sĩ mới có thể đưa kim vào
giữa hai đốt sống chỗ thắt lưng của ông và lấy một vài giọt dịch tủy.
Người bác sĩ tiến hành thủ tục ngay lập tức cảm thấy có vấn đề. Máu quanh não và
dây thần kinh cột sống ngăn chặn sự nhiễm trùng và tổn thương. Với những người
khỏe mạnh, dịch tủy di chuyển và chảy nhanh, rõ ràng theo dòng rất mượt qua
cây kim. Mẫu lấy từ xương sống của Eugene vẩn đục và nhỏ giọt một cách chậm
chạp như thể nó có rất nhiều hạt cát cực nhỏ. Khi có kết quả từ phòng thí nghiệm,
bác sĩ của Eugene đã hiểu được tại sao ông mắc bệnh, ông bị nhiễm vi rút viêm
não, gây ra bệnh rộp môi và nhiễm trùng nhẹ trên da. Tuy nhiên trong một số
trường hợp hiếm, vi rút có thể lên não, gây ra tổn thương lớn như nó gặm nhấm
qua những nếp gấp của mô nơi chúng ta suy nghĩ và mơ tưởng.
Bác sĩ của Eugene báo với Beverly họ không thể làm gì để chống lại tổn thương đã
hình thành nhưng một liều thuốc mạnh chống vi rút sẽ hạn chế nó lây lan. Eugene
rơi vào tình trạng hôn mê khoảng 10 ngày và đang cận kề với cái chết. Dần dần,
thuốc phát huy tác dụng, cơn sốt giảm dần và vi rút biến mất. Khi tỉnh lại, ông rất
yếu, mất phương hướng và không thể ăn uống bình thường. Ông không thể nói
thành câu và thỉnh thoảng thở một cách khó nhọc như thể có lúc ông đã quên cách
thở. Nhưng ông vẫn còn sống.
Cuối cùng, Eugene đã đủ khỏe để tham gia một loạt kiểm tra. Bác sĩ rất ngạc nhiên
khi cơ thể ông, trong đó có hệ thần kinh, không có tổn thương nào lớn. Bản chụp
cắt lớp não của ông cho thấy một dấu vết đáng lo ngại gần trung tâm não. Vi rút đã
phá hủy một mô hình bầu dục gần hộp sọ và cột sống. “Ông ấy có thể không nhớ
cô,” một bác sĩ cảnh báo với Beverly. “Cô cần chuẩn bị tinh thần nếu ông ấy ra đi.”
Eugene được chuyển đến một khoa khác trong bệnh viện. Trong vòng một tuần,
ông nuốt thức ăn dễ dàng. Tuần tiếp theo, ông bắt đầu nói chuyện bình thường,
yêu cầu món tráng miệng Jell-O và muối, lướt nhanh các kênh ti vi và phàn nàn về
một vở kịch nhiều kỳ buồn chán. Khi ông được chuyển đến trung tâm phục hồi
chức năng 5 tuần sau đó, Eugene đi xuống tiền sảnh và cho các y tá lời khuyên cho
kế hoạch cuối tuần.
“Tôi chưa từng thấy ai hồi sinh thế này,” một bác sĩ nói với Beverly. “Tôi thực sự
không muốn gieo hy vọng cho cô, nhưng điều này thật tuyệt vời.”
Tuy nhiên, Beverly vẫn còn lo lắng. Ở bệnh viện phục hồi chức năng, rõ ràng căn
bệnh đã thay đổi chồng bà theo hướng đáng lo ngại. Eugene không thể nhớ đó là
ngày nào trong tuần, hay như tên của những bác sĩ và y tá chữa trị mặc dù họ đã
tự giới thiệu rất nhiều lần. “Tại sao họ vẫn lặp lại những câu hỏi đó với tôi?” ông
hỏi Beverly sau khi một bác sĩ ra khỏi phòng ông. Khi ông trở về nhà, mọi thứ còn
trở nên lạ lùng hơn. Eugene có vẻ không nhớ gì bạn bè. Ông gặp khó khăn trong
các cuộc hội thoại. Có những buổi sáng, ông bước ra khỏi giường, vào bếp, tự nấu
thịt lợn muối xông khói và trứng, rồi leo lên giường và bật đài. 40 phút sau, ông lại
làm những việc giống như thế: thức dậy, nấu thịt lợn xông khói và trứng, trở lại
giường và nghịch cái đài. Rồi ông lại làm lại những việc đó.
Lo sợ, Beverly tìm đến các chuyên gia, có cả một nhà nghiên cứu ở đại học
Carlifornia, San Diego với chuyên ngành về mất trí nhớ. Vào một ngày thu nắng
đẹp, Beverly cùng Eugene đến một tòa nhà không có gì nổi bật trong khuôn viên
trường đại học, nắm tay nhau và bước chậm rãi qua tiền sảnh. Họ được đưa tới
một căn phòng kiểm tra nhỏ. Eugene bắt đầu nói chuyện với một người phụ nữ trẻ
đang sử dụng máy vi tính.
“Làm việc trong ngành điện tử nhiều năm, điều làm tôi ngạc nhiên nhất là nó,” ông
nói và chỉ vào cái máy mà cô ta đang gõ chữ. “Khi tôi còn trẻ tuổi, cái vật đó nằm
trên hai cái giá gác cao khoảng 2 mét và chiếm toàn bộ căn phòng.”
Người phụ nữ tiếp tục gõ bàn phím. Eugene cười thầm.
“Thật là kỳ lạ,” ông nói. “Những thứ mạch in, ống hai cực và ống ba cực này. Khi tôi
còn làm điện tử, hai cái giá đỡ cao 2 mét giữ những thứ đó.”
Một nhà khoa học vào phòng và tự giới thiệu mình. Ông hỏi Eugene bao nhiêu tuổi
rồi.
“Ồ, xem nào, 59 hay 60?” Eugene đáp lời. Thực sự ông đã 71 tuổi rồi.
Nhà khoa học bắt đầu gõ máy vi tính. Eugene mỉm cười và chỉ vào nó. “Nó thật sự
là cái gì đó,” ông nói. “Ông biết đấy, khi tôi còn làm điện tử, hai cái giá đỡ cao 2 mét
giữ thứ này.”
Nhà khoa học Larry Squire, 52 tuổi, là một giáo sư đã dành 30 năm nghiên cứu cấu
trúc hệ thần kinh của trí nhớ. Chuyên ngành của ông là khám phá cách bộ não lưu
giữ các sự kiện. Tuy nhiên, công trình của ông với Eugene sẽ nhanh chóng mở ra
một thế giới mới cho ông và hàng trăm nhà nghiên cứu khác, nó đã phục hồi
những hiểu biết của chúng ta về cách thói quen hoạt động. Nghiên cứu của Squire
sẽ chỉ ra rằng những người dù không thể nhớ tuổi của mình hay hầu như mọi thứ
vẫn có thể phát triển những thói quen cực kỳ phức tạp, cho đến khi bạn nhận ra
rằng ai cũng dựa vào những quá trình thần kinh giống nhau mỗi ngày. Nghiên cứu
của ông và những người khác sẽ tiết lộ, cơ chế thuộc về tiềm thức con người ảnh
hưởng đến vô số lựa chọn như thể nó là sản phẩm của những suy nghĩ rất hợp lý
nhưng thực tế lại bị ảnh hưởng bởi những tác động mà chúng ta ít nhận ra hay
hiểu được.
Ngay lúc Squire gặp Eugene, ông đã nghiên cứu hình ảnh não của Eugene hàng
tuần. Bản chụp cắt lớp chỉ ra, hầu như mọi tổn thương trong hộp sọ của Eugene bị
giới hạn trong một khu vực rộng 5cm gần trung tâm não. Con vi rút phá hủy gần
như toàn bộ thùy thái dương trung gian, một mảnh của những tế bào mà các nhà
khoa học nghi ngờ là quan trọng với các chức năng nhận thức như gợi lại quá khứ
và điều chỉnh một vài cảm xúc. Squire không ngạc nhiên trước sự phá hủy hoàn
toàn đó, viêm não do vi rút phá hủy mô liên tục và chính xác như phẫu thuật.
Nhưng điều làm ông bất ngờ là mức độ giống nhau của các hình ảnh đó.
30 năm trước, là một học viên học bằng tiến sĩ ở MIT, Squire đã làm việc cùng một
nhóm nghiên cứu một người đàn ông được biết đến là “H.M”, một trong những
bệnh nhân nổi tiếng trong lịch sử y học. Khi H.M, tên thật là Henry Molaison
nhưng các nhà khoa học đã che giấu căn cước của ông suốt đời, được 7 tuổi, ông bị
xe đạp tông phải và đập mạnh đầu xuống đường. Không lâu sau đó, ông mắc chứng
co giật và bắt đầu bất tỉnh. Vào năm 16 tuổi, chứng động kinh nặng của ông lần
đầu tiên phát lộ và nó ảnh hưởng đến toàn bộ não, sau đó, ông bất tỉnh khoảng 10
lần một ngày.
Khi bước sang tuổi 27, H.M không còn hy vọng chữa khỏi. Thuốc chống co giật
không còn tác dụng. Ông thông minh nhưng không thể làm việc gì. Ông vẫn còn
sống chung với bố mẹ. H.M mong muốn một sự tồn tại bình thường. Vì thế ông đã
tìm kiếm sự giúp đỡ từ một bác sĩ mà sự ham muốn thí nghiệm đã vượt xa nỗi sợ
về sai sót y học. Nghiên cứu đã cho thấy một khu vực trong não bộ gọi là hồi hải
mã có thể có vai trò quan trọng trong sự co giật. Khi bác sĩ đề nghị can thiệp vào
đầu của H.M, nâng phần trước của não và dùng một ống nhỏ hút phần hồi hải mã
và một vài mô xung quanh ra từ bên trong não của ông, H.M đồng ý.
Cuộc phẫu thuật diễn ra vào năm 1953 và vì H.M được chữa khỏi, cơn co giật của
ông bị làm chậm lại. Tuy nhiên, gần như lập tức, não của ông rõ ràng đã bị biến đổi
hoàn toàn. H.M biết tên của mình và mẹ ông đến từ Ireland. Ông có thể nhớ thị
trường chứng khoán 1929 sụp đổ và tường thuật mới về cuộc xâm lược ở
Normandy. Nhưng gần như mọi thứ xảy ra sau đó, mọi ký ức, kinh nghiệm và cố
gắng từ hàng chục năm trước phẫu thuật, đã bị xóa bỏ. Khi một bác sĩ bắt đầu
kiểm tra trí nhớ của H.M bằng việc hướng dẫn ông cách chơi bài và các dãy số, ông
nhận ra H.M không thể nhớ được bất cứ thông tin mới nào hơn 20 giây.
Từ ngày phẫu thuật đến ngày mất vào năm 2008, mọi người H.M gặp, mọi bài hát
ông nghe, mọi căn phòng ông vào đều hoàn toàn là những trải nghiệm mới. Não
của ông đã bị đóng băng. Mỗi ngày, việc ai đó có thể chuyển kênh ti vi bằng cách
chỉ vào một nút nhựa màu đen trên màn hình làm ông bối rối. Ông tự giới thiệu
mình với các bác sĩ và y tá hết lần này đến lần khác, hàng chục lần mỗi ngày.
“Tôi thích tìm hiểu H.M, vì trí nhớ có vẻ là một cách thú vị và rõ ràng để tìm hiểu
não bộ,” Squire nói với tôi. “Tôi lớn lên ở Ohio, và tôi có thể nhớ năm lớp Một, khi
cô giáo tôi cầm bút màu của tất cả mọi người và tôi bắt đầu trộn các màu để xem
chúng có thành màu đen không. Tại sao tôi có thể nhớ điều đó nhưng không thể
nhớ cô giáo tôi trông như thế nào? Tại sao não của tôi lại quyết định ký ức này
quan trọng hơn ký ức khác?”
Khi Squire nhận được hình ảnh não của Eugene, ông kinh ngạc khi thấy nó có vẻ
giống với hình ảnh của H.M. Có một khoảng trống cỡ quả hồ đào trong đầu hai
người. Trí nhớ của Eugene cũng như của H.M đều đã bị mất đi.
Squire bắt đầu kiểm tra Eugene, ông nhận thấy bệnh nhân này khác với H.M ở
một vài điểm cần nghiên cứu thêm. Trong khi lúc gặp H.M, gần như mọi người đều
biết có điều gì đó sai sót, thì Eugene có thể nói chuyện và làm những việc mà người
bình thường sẽ không nhận ra sai sót. Cuộc phẫu thuật của H.M gây suy nhược
nặng nên ông được đưa vào cơ sở từ thiện để được chăm sóc trong thời gian còn
lại. Ngược lại, Eugene sống tại nhà cùng vợ. H.M còn không thể nói chuyện bình
thường. Eugene trái lại có sự thông thạo đáng kinh ngạc trong việc dẫn dắt bất kỳ
cuộc thảo luận nào về vấn đề ông cảm thấy thoải mái khi trò chuyện trong thời
gian d...
 
Một quyển sách hay là đời sống xương máu quý giá của một tinh thần ướp hương và cất kín cho mai sau. (J.Milton)
Nhúng mã HTML
Nhúng mã HTML
Nhúng mã HTML
Nhúng mã HTML
https://youtube.com/watch?v=98MAU2zffJQ&feature=shared





